Triển lãm tranh Nguyễn Trọng Khôi được tổ chức tại Gallery Lạc Việt – Virginia- từ 6 đến 30 tháng 11 năm 2004 vừa qua với 54 tác phẩm sơn dầu, hầu hết là tranh vẽ chủ đề tĩnh vật, trong đó có 10 tác phẩm trừu tượng. Triển lãm đã thu hút rất nhiều khách thưởng lãm. Số lượng tranh được khách mua sưu tập đáng kể là 30 tác phẩm trên tổng số 54 tranh trưng bày.
Sau đây là bài viết về tác phẩm hội họa Nguyễn Trọng Khôi.
TRẦN NGHI HOÀNG
Tôi không dự kiến viết một bài chuyên đề về tranh Nguyễn Trọng Khôi (NTK). Viết như vậy mất sướng và (xin lỗi), sẽ giới hạn cho một số người đọc. Vả lại, theo tôi thì ngoài một số kiến thức (căn bản) để thưởng ngoạn tranh, theo kiểu học qua cái lớp gì đó đại khái là Introducing to the Fine Art, người ta vẫn có thể xem tranh bằng trái tim, bằng sự rung cảm và bằng những kiến thức khác thuộc ngành nhân văn cộng với những trải nghiệm trong đời sống của từng cá nhân.
Riêng vùng Washington D.C mà tôi đang sinh sống, tên tuổi NTK không còn xa lạ gì với giới yêu tranh trong cộng đồng Việt Nam. Chẳng những thế, có một số người bản xứ hay một vài collectors từ nhiều nguồn gốc quốc gia khác nhau đã trân trọng đặt tranh NTK nằm trong bộ sưu tập của mình.
Nguyễn Trọng Khôi triển lãm lần đầu ở vùng Washington D.C vào năm 2000, từ ngày 5 tháng 8 đến ngày 15 tháng 10 tại Café Monmartre Reston. Lần thứ hai năm 2002 từ ngày 26 tháng 5 đến ngày 15 tháng 6 tại Lạc Việt gallery của họa sĩ Nguyễn Tấn Đức. Và vừa đây, cũng tại Lạc Việt gallery địa chỉ 5179 Lee Highway Arlington, VA 22207, Nguyễn Trọng Khôi đã trưng bày loạt tranh vừa sáng tác của ông từ 6 tháng 11 đến 30 cuối tháng.
Tính ra, cứ mỗi hai năm, NTK lại đến với Washington D.C. một lần. Và mỗi lần NTK cùng với những bức tranh của ông xuất hiện, là mang đến cho người thưởng ngoạn những mới mẽ và vượt thoát hơn lần trước!
Tôi có thể đoan chắc là ai đã từng xem tranh, theo dõi sự dấn thân và du hành của NTK trong hội họa, đều phải đồng ý một điểm đầu tiên là ở tranh NTK, có từng giây phút vượt lên và vượt qua cái cũ. Ở màu sắc. Ở kỹ thuật. Ở đề tài và kể cả đường nét.
Có thể cùng đề tài đó, tĩnh vật chẳng hạn, NTK với vài ba trái táo, một ly nước lọc, một cành hoa… của những năm trước. Bây giờ là dăm ba viên sỏi, một cái tẩu thuốc hút dở nằm kề bên một cái độc bình da rạn cũ kỹ…
Đề tài tĩnh vật của NTK có thể là bất cứ thứ gì! Một cái đèn lồng (lantern), cành lá khô, trái lựu đã bẽ hai và một cuốn sách cũ sờn gáy (Still Life with Lantern). Vài cũ hành tây đỏ, chiếc bình sành (cổ) cũ. Cuốn sách bong trang phai màu với một nhành lá khô (Leaf). Vài ba trái lựu… (Pomegranate). NTK không khổ sở đi tìm đề tài như (có thể) một số họa sĩ khác. Ông vẽ, ghi lại những vật rất tầm thường, rất gần gũi với đời sống của con người hằng ngày.
Lọat tranh “On Side Walk” của NTK là một thử nghiệm - theo tôi, rất nên thơ và đáng ca ngợi. Ông vẽ một cột nước bên lề đường. Bức khác là cái lò sưởi cũ (Old Heater). Vỉa hè, khung cửa của basement và lá vàng trong khe cống… vài cọng rác.
Bằng những màu sắc rất chín nhưng không cầu kỳ, NTK tỉ mỉ nhưng vẫn phóng túng ghi lại cuộc sống. Ghi lại từng giây phút những hình ảnh, những vật thể rất tầm thường chung quanh ông. Mà cũng là chung quanh mỗi chúng ta.
Điều cần nói là những vật thể tầm thường gần gũi đó, mà thường ngày chúng ta ai cũng đã có thấy, nhưng hầu như hiếm người (ghi nhận) cho phép chúng vào trong trí nhớ của những bộ não đã quá căng trong đời sống chạy đua hiện nay. Tuy nhiên, dưới nét cọ của NTK, và với một lối pha trộn ánh sáng rất tài tình và hợp lý bằng những màu sắc u nhã, bỗng người xem tranh tĩnh vật NTK nhận ra bao nhiêu là chất thơ đang sinh động trong những vật thể tầm thường mà NTK đã vẽ lại. Màu xanh có chút vàng cổ lục là một đặc điểm của NTK. Nó thể hiện một chiều sâu của quá khứ, của những gì “nằm bên kia” hay “bên trong” cái NTK đã vẽ.
Cái phía bên kia trong tranh NTK chính là sự bí ẩn của đời sống, mà dường như NTK từng lúc đã thể hiện trong tranh ông. NTK thể hiện điều bí ẩn đó bằng hội họa, hay chính ông đang đặt câu hỏi với điều bí ẩn đó? Bức Ceramics, với một chiếc độc bình (cổ?) đặt trên chiếc ghế tre bên tường. Bên trái chiếc độc bình, trong vách tường ẩn hiện qua một khoảng vỡ là vài ba chiếc độc bình khác (có vẻ) như được dấu bên trong vách. Toàn thế bức tranh là một màu xám chuyển qua xanh cổ lục. Không ít người đứng trước bức Ceramics sẽ bồi hồi như đứng trước một điều gì đó bí mật không lí giải được!
Vì không lí giải được nên cùng lúc, nó tàng ẩn sự thơ mộng kỳ quặc từ những mảng màu tối, khuất như gợi cho người ta một sự (tò mò) tìm kiếm.
Chất bí ẩn trong tranh NTK còn nằm ở những đề tài khác ngoài tĩnh vật. Chẳng hạn như tam bộ họa Nostalgia. Cả ba bức đều có mặt trăng nằm lơ lững ở giữa, bên trên. Từ bức đầu đến bức thứ ba, mặt trăng càng lúc càng đậm đặc thêm. Bức đầu (trái) phía dưới là một vườn chuối. Bức giữa là bãi biển vắng, chiếc thuyền độc mộc chênh vênh trên bãi, cạnh là một cái mủng (thúng) nhỏ. Bức thứ ba dưới trăng vẫn là bãi biển quạnh quẽ, chỉ một người đàn ông áo bà ba đội noun lá đang nâng cây sáo thổi.
Như vậy, “Nỗi Nhớ Quê” trong tranh chưa chắc là từ nổi buồn biệt xứ của một kẻ lưu vong… Mà cũng có thể là của một người đang sắp sửa trên đường vượt biển tìm đến một bến bờ xa lạ chưa biết? Hoặc giả, “Nỗi Nhớ Quê” đã trùng trùng phũ ập ngay trên quê hương mình đang sống, bởi ánh trăng và cảnh thổ đã từng phút giây đổi thay cùng lúc với những dự định cho tương lai mờ mịt? Tại sao ba vầng trăng tròn từ nhạt đến đậm? Tại sao là vườn chuối và thuyền độc mộc và người áo vải nón lá thổi sáo? Tiếng sáo gọi hồn cố quận hay hồn quá khứ? Cũng có thể rằng tiếng sáo để gọi một hồn hiện tại đã lạc loài trên biển đời tang hải chưa biết về đâu?
Ở bức First Snow, cùng thuộc loại tam bộ họa. Ba bức tranh trong một bức tranh. Một người đàn bà mặc áo dạ đầu quấn khăn, khăn phũ xuống choàng quanh cổ. Bức đầu vẽ mặt người đàn bà với những nét đậm, cứng, đứng dưới một vòm cây khô trụi lá.
Bức kế, vòm cây khô trụi lá biến mất. Một khoảng ánh sáng từ sau người đàn bà day lên cao. Bức này khuôn mặt người đàn bà được vẽ tỉ mỉ. Sau lưng người đàn bà là thềm sân nhà phũ đầy tuyết trắng.
Bức thứ ba vòm cây xuất hiện lại trên đầu người đàn bà với những đóm lá tuyết. Và người đàn bà được vẽ như âm bản như trong một phim chụp hình.
Bí ẩn của First Snow nằm sau lưng người đàn bà. Mùa tuyết đầu tiên trên xứ lạ. Hay bí ẩn của bức tranh đã nằm trong không gian mùa đông của tuyết lạnh ở một xứ sở chưa quen?
Từ những viên sõi bên ly nước lạnh, trên một tấm vải trắng lạnh… Những đóm tuyết lạnh… Tranh NTK dường như luôn có không khí của một chút gì đó hoang vu câm lặng và quạnh quẽ.
Ngay cả khi NTK lấy chủ thể là màu đỏ cadium: Bức Red Dragonfly vẽ cùng người đàn bà trong First Snow mặc quần áo len đỏ. Đầu bà đội nón len và cổ quấn khăn len, bàn tay phải cầm đôi găng, đứng giữa cánh đồng với chân trời cuối xa. Và xung quanh bà là những con chuồn chuồn đang bay vờn. Bức tranh nhiều màu đỏ vẫn “lạnh”. Phải chăng vì người đàn bà trong tranh đội nón len và quấn khăn? Hơn nữa tay phải bà còn cầm một đôi găng… Có thể những chi tiết này ảnh hưởng tới cái “chất lạnh” trong bức tranh đôi chút! Tuy nhiên, theo tôi, rốt ráo là cách dùng màu và bố cục của NTK đạt tới một kỹ thuật tân kỳ. Kỹ thuật làm người thưởng ngoạn tranh ông bị chập chờn giữa sự cách biệt, xa vắng. Tôi muốn nói đến cái chất “sang cả” trong tranh NTK; cùng lúc với sự gần gũi trước mắt, hay nhìn thấy nhiều lần đâu đó… Như cuốn sách cũ, với nhành cây khô nằm vắt ngang trên…. Như những chiếc ly thủy tinh nằm tập họp trên mặt bàn nghiêm.
Đặc tính tranh NTK là subject rất bình thường. Bình thường đến mức khác thường. Bình thường đến độ làm người ta ngạc nhiên. Người đàn bà. Cánh đồng. Chân trời xa. Những con chuồn chuồn. Đâu có gì là cầu kỳ phải không? Nhưng mang tất cả nào người, nào cánh đồng, nào chân trời và đám chuồn chuồn đặt vào một không gian và chủ thể màu đỏ tực rỡ là bộ quần áo người đàn bà… Và với ánh sáng trong như lưu ly trong không gian làm người xem tranh thấy được sự im vắng… Bỗng nhiên bức tranh làm người xem “cảm” được cái lạnh của không gian của bức tranh. Ánh sáng. Sở trường của NTK là ánh sáng. Ánh sáng rất thật. Thật một cách điêu luyện, nhuần nhuyễn.
Và chính kỹ thuật ánh sáng của NTK đã tạo nên “Chất Thơ” trong tranh ông. NTK vẽ như một tay realist. Nhưng vô hình chung tác phẩm của ông vượt qua bức tường realism và trở thành super-realism ở một dạng thức lôi cuốn và dẫn dắt người xem tranh ông “đi lạc” tới những bến bờ khác. Những bến bờ không phải là sự “hiện thực” (realism) mà ông đã vẽ.
Bạn thấy gì trên cuốn sách mòn cũ một nhành lá vàng úa. Mặt bàn vàng ốc khuất ẩn vào khoảng không gian nâu đen. Bìa cuốn sách xanh tưa cũng có ẩn màu vàng. Những đóm úa trên lá như buồn buồn. Một bài thơ siêu thực chăng? Một nỗi buồn vu vơ chăng?
Không. Tôi thấy đó là một nỗi buồn của cuộc đời. Của quá khứ. Của kỷ niệm. Nhưng nếu bạn muốn tôi nói rõ hơn về nỗi buồn này thì tôi chịu. Nó chỉ man mác. Như tiếng chiếc lon trên đường phố khuya bị một tay du thủ đá chơi vào góc tường. Như tiếng khua của cây gậy một người mù vào hàng rào nhà ai lúc nửa khuya. Nó rất cuộc đời. Nhưng cũng rất mơ hồ! Chẳng phải cuộc đời này vốn là mơ hồ sao?
Bởi đó, cái quá khứ như ẩn, như hiện trong màu sắc tranh NTK cũng mơ hồ như vậy. Và dĩ nhiên, cái thứ kỷ niệm loáng thoáng trong trang ông là thứ kỷ niệm không tên.
Đừng cố hồi ức về một kỷ niệm, khi bạn đang đứng trước một bức tranh của NTK! Bức tranh, có thể làm bạn bồi hồi như bắt gặp một cái gì đó trong ký ức. Nhưng nó vừa mơ hồ lại vừa rất thân quen. Tôi chỉ có thể nói: Nó rất blue… Hay cái hơi hướm của nhạc Jazz chìm ẩn trong tranh NTK.
Nhưng nếu bạn biết là, trong một họa sĩ NTK, còn có một NTK nhạc sĩ và ca sĩ. NTK sáng tác nhạc và có một giọng hát rất khỏe, rất nhà nghề. Như vậy, chuyện cũng đâu có gì lạ, phải không.
Nhưng tôi muốn bàn tiếp, bàn thêm về những thơ mộng và bí ẩn trong tranh NTK. Trên hết, đó là sự sống mãnh liệt.
Một trái táo bị sâu ăn. Những mảnh còn nguyên vẫn bóng lên màu đỏ hay màu xanh của táo. Khoảng sâu ăn chìm ruỗng. Như những mảnh lá bị héo úa. Quắt lại. Nằm ngập trong một khoảng tối.
Đời sống ôi buồn như cỏ sâu
(thơ Nhã Ca)
Bạn đã từng bao giờ thấy một lá cỏ “bị” sâu chưa? Ôi! Nhìn một lá cỏ sâu, ai mà không buồn cho được!
Và khi buồn, thì:
Con sâu đo ngược lên cành khổ
(thơ Trần Nghi Hoàng)
NTK ngoài đời sống giao tế luôn hoạt bát, vui vẻ. Sao tranh ông cứ đằm đắm trong những nỗi buồn? Nhưng là những nỗi buồn cao sang như của một tay giang hồ, nhìn ra bất cứ nơi chốn nào, bất cứ cảnh thổ nào, bất cứ vật thể nào cũng có những cái đẹp não lòng… Mà một con người thì quá giới hạn… Không thể hiện diện khắp mọi nơi có cái đẹp đó. Và đời người thì quá ngắn, không đủ dông dài để cho ta la cà khắp những biên cương của cái đẹp, cái thẩm mỹ. Từ trong một trái cà chua, cái bao đựng thức ăn mua ở super market. NTK vẽ màu vàng (mà không hẳn vàng) của cái bao ở chợ hay vẽ những củ hành tây trong một xó bếp, những củ hành đỏ trên mặt bàn ăn… tất cả tất cả, vẫn có thể làm nao lòng người. Dường như trong chất màu mà NTK pha trộn nên “như thật”, rất là realism đó, nó có cái gì từ trong hơi thở tác giả. Và tôi thấy rằng, chính hơi thở của NTK trong tác phẩm của ông, đã tạo thành Hơi Thở Thơ trong Hội Họa của NTK.
Những khoảng tối trong tranh NTK buồn buồn như dấu một cái gì bí ẩn. Những khoảng sáng, rực rỡ trong những bức landscape của ông, ngoài nét cao sang ra, nó vẫn khuất mặt người. Khuất mặt niềm vui. Hay có thể nói, niềm vui trong tranh NTK rất lặng.
Hầu hết, tranh landscape của NTK vẽ cảnh thổ vùng New England. Boston… Hardvard. Những khoảng đường. Những phố thị. Nhưng thiếu vắng bóng người.
NTK có khá nhiều tranh vẽ những góc phố, những cao ốc quanh Harvard Square. Vẫn vắng bóng người. Bức duy nhất (?) có sự hiện diện của con người là bức NTK vẽ ngôi nhà thờ ở Harvard. Một gã bum, gã bụi đời ngồi gục đầu trước cửa nhà thờ.
NTK không vẽ người trong phong cảnh. Ông vẽ người là chủ thể chính ở những nơi khác. Bức Red Dragon vẽ người đàn bà y phục đỏ là chính. Phong cảnh và chân trời mờ nhạt sau lưng chỉ là backdrop. Những con chuồn chuồn cũng là back drop.
Sẽ có người tự hỏi: Sao NTK vẽ người rất tới như thế, mà trong tranh phong cảnh, ông lại rất ít khi vẽ người. Tôi tự trả lời theo cái nhìn của tôi: Trong tranh landscape của NTK, thực ra, con người hiện diện đầy ra đó chứ! Trong những ngôi nhà đẹp đẽ kia. Sau những bức tường, những vòng rào. Những rừng cây. Ở đâu mà chẳng có con người. Những con người dấu mặt trong sự bí ẩn của đời sống.
Bởi vì, sự bí ẩn, sự sống, hơi thở thơ là một khế hiệp tuyệt vời trong tranh NTK.
Còn nữa, sự cô đơn và hoang lạnh của cuộc đời. Như vậy, tranh NTK sang nhưng lạnh. Lạnh nhưng lại có sự nồng nàn của sức sống nghệ thuật.
NTK triển lãm ở vùng Wshington D.C. như vậy là đã ba lần. Mỗi lần sau càng thành công hơn lần trước. Người yêu tranh NTK ngày càng thấy ông đã bước đi những bước rất dài trên con đường của hội họa ông.
Có lần, trong một cuộc rượu, khi tôi và vài người bạn khác khen là NTK vẽ càng ngày càng tới. NTK đã cười nói:
“Ngày trước, tôi vẫn làm công việc “tìm một ý nghĩa, một triết lí gì đó cho mỗi bức tranh mình sắp hoặc đang vẽ. Điều đó thật ngu xuẩn. Bây giờ, tôi vẽ những gì mình thấy trước mắt. Và tôi khám phá ra rằng, cái ý nghĩa của mỗi bức tranh, chính là công việc tôi đang làm: VẼ NÓ.”
TRẦN NGHI HOÀNG
Virginia, Dec-15-2004